Invasion có phải là xâm lược?

Xâm lược – Invasion là khi quốc gia này đưa quân vào nước khác, bất chấp luật pháp quốc tế và sự phản kháng của nước sở tại.

Cơ sở đầu tiên để đánh giá sự chính đáng của hành vi chuyển quân quốc tế là Luật pháp quốc tế.

Tuy nhiên, bản thân luật pháp không bao giờ bao chứa hết được thực tiễn chính trị đa dạng (insufficiencies).

Quân tình nguyện Việt Nam tiến vào giải phóng Phnom Penh tháng 1/1979
Quân tình nguyện Việt Nam tiến vào giải phóng Phnom Penh tháng 1/1979

Bởi vậy, cơ sở thứ hai cho sự chính đáng là các quan niệm đạo đức của cộng đồng (moral justifications); và thứ ba là sự chấp thuận của người dân sở tại (consent).

Chính hai yếu tố sau dẫn đến những tranh cãi thế nào là xâm lược hay không. Ta sẽ phân loại được: (i) các hành vi chuyển quân quốc tế; và (ii) sự đóng quân quốc tế dựa trên mức độ chính danh như sau:

Xâm chiếm/xâm lược (Invasion): hành vi tột cùng của sự không chính đáng. Đó là khi quốc gia này đưa quân vào nước khác, bất chấp luật pháp quốc tế và sự phản kháng của nước sở tại. Ví dụ, Nhật xâm lược Trung Quốc; Đức xâm lược châu Âu.

Triển khai quân (Deployment): Hành vi chuyển quân phù hợp luật pháp quốc tế, được chính quyền và người dân nước sở tại ủng hộ, đón nhận. Ví dụ, triển khai quân LHQ gìn giữ hòa bình; Mỹ triển khai quân ở Nhật – Hàn sau khi có các hiệp định an ninh.

Giải phóng (Liberation): hành động quân sự đáp ứng sự mong mỏi chính đáng của chính quyền và đa số người dân nước sở tại để giúp họ thoát khỏi ách đô hộ. Ví dụ, Liên Xô và Đồng Minh giải phóng châu Âu khỏi phát xít.

Đồn trú (Stationing): quân đội nước ngoài được chính quyền và người dân nước sở tại cho phép đóng quân trên lãnh thổ của họ. Ví dụ, quân Mỹ đồn trú tại Nhật và Hàn sau khi có hiệp định an ninh & hợp tác quân sự, đồng minh. Quân đội Liên Xô tại Đông Âu hoặc VN sau 1975.

Chiếm đóng (Occupation): quân đội nước ngoài dựa vào sức mạnh cưỡng chế để chiếm đóng tại quốc gia khác, không có được sự đồng thuận của chính quyền và người dân nước sở tại. Ví dụ, quân Mỹ tại Nhật sau thế chiến 2, trước khi ký hiệp ước đồng minh.

Như vậy, “Invasion” sẽ thường đi với “Occupation”, hàm ý tiêu cực: xâm chiếm và chiếm đóng, bất chấp luật pháp quốc tế, không có sự chấp thuận của chính quyền và người dân sở tại.

Bởi thế, dịch “Invasion” đơn giản là sự chuyển quân, điều quân đội vào nước khác là không hiểu bản chất khái niệm.

“Invasion” là hành vi không chính đáng, bị phản đối, chứ không phải hành vi trung tính như “Deployment”, hay chính đáng nhất như “Liberation”.

Khi ông Lý Hiển Long dùng “Invasion” để nói Việt Nam đưa quân vào Campuchia thì ông ta chỉ dựa trên luật pháp quốc tế và giá trị, quan niệm đạo đức của riêng ông ta.

Ông ta bỏ quên hai yếu tố sau là sự biện luận của người dân Việt Nam và dân Campuchia đang bị tàn sát; cũng như sự đón nhận (chấp thuận) của người dân Campuchia.

Đây chính là hai yếu tố gây tranh cãi về bản chất của hành động đưa quân VN vào Campuchia.

Đến nay, lực lượng Campuchia do VN ủng hộ vẫn tồn tại; số lượng đáng kể người dân Campuchia có thể vẫn ghi nhận VN; Polpot thì lụi tàn và bị xử án.

Điều đó là cơ sở cho tính chính danh của hành vi điều quân vào Campuchia. Nó khác hẳn về hành vi xâm chiếm và đô hộ của phát xít Đức đối với châu Âu (xâm lược).

Và vì thế, không thể gọi hành động của Việt Nam là “xâm lược – invade” Campuchia.

Nếu ông Lý dựa vào luật pháp quốc tế thì dân Việt Nam và Campuchia cũng có thể dựa vào các giá trị đạo đức và sự mong đợi của những người dân đang bị tàn sát để biện luận cho hành vi chuyển quân.

Sự tranh cãi này là bình thường. Và nó lý giải cho phản ứng của nhiều người Việt Nam với ông Lý.

Dang Nguyen

Please Login to comment
  Subscribe  
Notify of